Điều kỳ diệu của cây lược vàng

399
Cây lược vàng có nhiều tác dụng thần kỳ trong việc chữa bệnh, và không độc hại.

Các loại thuốc được chế tạo từ cây này có tác dụng giảm đau rất tốt, loại bỏ bệnh ngứa, giúp vết thương, vết bầm tím, vết bỏng và chỗ gãy xương mau lành, chữa bệnh viêm da, vẩy nến, hắc lào, lở loét và sự hình thành các u nang.

Tiến sĩ Võ Văn Chi (người nhiều năm nghiên cứu biên soạn cuốn sách nổi tiếng: Từ điển Cây thuốc việt Nam) đã có nhiều nghiên cứu và phân tích về các tính chất của cây lược vàng.

Theo tiến sỹ Võ Văn Chi: “Trong y học cổ truyền (y học dân gian) thì các chế phẩm từ các loại cây lược vàng, thường được gọi là sâm nhà, được dùng trong các trường hợp đau hệ tiêu hóa (dạ dày, đường ruột), túi mật, lá lách, cũng như bệnh hen suyễn, bệnh phổi, dị ứng, ung thư…Người ta cho rằng các loại thuốc được chế tạo từ cây này có tác dụng giảm đau rất tốt, loại bỏ bệnh ngứa, giúp vết thương, vết bầm tím, vết bỏng và chỗ gãy xương mau lành, chữa bệnh viêm da, vẩy nến, hắc lào, lở loét và sự hình thành các u nang.”

Cây lược vàng không hề độc hại

Tiến sĩ Võ Văn Chi cũng nêu ra một trong những tính chất chữa bệnh đặc biệt của cây lược vàng (ria vàng) như sau: Flavonoid là một nhóm các hợp chất có hoạt tính sinh học cao. Phạm vi sử dụng nội khoa các cây cỏ, có trong thành phần của mình flavonoid, khá rộng bởi vì không độc hại cho cơ thể con người kể cả khi uống hay bôi da.

Cây lược vàng trị bệnh.
Vợ chồng ông Lê Văn Hoàng (Việt kiều Nhật, ngụ quận 2 TPHCM) cũng từng nhai sống lá cây lược vàng và giúp đánh tan sỏi thận.

Những flavonoid trong cây ria vàng có hoạt tính vitamin P làm giảm tính dễ vỡ của thành mạch máu, ảnh hưởng đến tác dụng giảm đau, tăng cường tác dụng của vitamin C. Ngoài ra, những chất này có tác dụng kháng viêm, giúp làm lành vết thương, vết bỏng và dập thương. Khi uống chúng (flavonoid) giúp chữa các vết loét dạ dày và tá tràng, là thuốc thông mật và có tác dụng chống khối u. Trong dịch của cây lược vàng có chứa hai loại flavonoid: quercetin và kaemprerol.

Quercetin có hoạt tính vitamin P và chống u và là chất chống oxy hóa có hiệu quả, lợi tiểu, chống co thắt. Nó được sử dụng khi bị dị ứng, xuất huyết trong, vỡ mao mạch, viêm thận, thấp khớp, cũng như một số bệnh của hệ tuần hoàn (tim- mạch), mắt và cả đến những bệnh nhiễm trùng.

Kaemprerol làm chắc thành mạch máu, có tác dụng tăng trương lực, có các tính chất kháng viêm, loại bỏ các chất nguy hại ra khỏi cơ thể và là chất lợi tiểu có hiệu quả. Nó được sử dụng để chữa các loại bệnh viêm khác nhau, dị ứng và các rối loạn hoạt động của hệ thống tiết niệu.

Ân Phạm – Aladine.net